Soạn bài: Bài 26 - Sống chết mặc bay

ĐỌC - HIỂU BÀI VĂN

1. Sống chết mặc bay có thể chia làm mấy đoạn? Mỗi đoạn nói gì?

Truyện Sống chết mặc bay có thể chia làm ba đoạn:

- Đoạn thứ nhất: từ đầu đến “Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất”. Đoạn này nói về cảnh đê sắp vỡ và cảnh hàng trăm nghìn dân phu đói mệt đang lăn lộn trong bùn nước một cách yếu thế để chống chọi với sức mạnh thiên nhiên.

- Đoạn thứ hai: từ “Ấy, lũ con dân...” cho đến "... Ù! Thông tôm, chi chi nảy!... Điếu mày!”.

Đoạn này miêu tả cảnh quan phụ mẫu đang chễm chệ ngồi trong đình đánh bài và chỉ tập trung tâm tư vào ván bài sắp thắng mặc kệ cảnh vỡ đê sắp xảy ra.

- Đoạn thứ ba: từ “Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to...” cho đến hết.

Đoạn này nói đến cảnh khi quan thắng lớn trong ván bài thì đê vỡ, cả một vùng dân quê chìm sâu trong biển nước.

2. Phép tương phản trong tác phẩm

a) Hai mặt tương phản cơ bản trong truyện này: cảnh dân phu lam lũ, lầm than lo giữ đê và cảnh quan phụ mẫu ung dung ngồi đánh bài, mặc kệ đê vỡ, dân khổ.

b) Hai mặt tương phản đó thể hiện cụ thể ở các cảnh sau:

- Cảnh mưa đêm tầm tã, nước sông dâng cao, đê sắp vỡ tương phản với cảnh ngôi đình nằm ở một địa thế cao mà vững chãi, nước to mấy cũng vẫn bình yên.

- Cảnh ngoài đê hàng trăm dân phu lăn lộn trong bùn nước, gội gió tắm mưa để cố mà giữ đê tương phản với cảnh trong đình: đèn thắp sáng trưng, kẻ hầu người hạ đi lại rộn ràng. Quan thì ngồi chễm chệ trên sập duỗi chân ra cho một tên người nhà quỳ mà gãi và quanh ngài là đủ thứ đồ dùng sang trọng bằng vàng bạc được bày ra, quanh ngài là các món ăn ngon và quý nhất, quanh ngài còn bọn nha lại cùng bọn chức sắc địa phương ngồi hầu bài.

- Cảnh bên ngoài thì mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít tương phản với cảnh trong đình thật tịch mịch nghiêm trang. Cảnh dân phu thì như con sâu con kiến, vất vả, lấm láp tương phản sâu sắc với cảnh quan chơi bài nhàn nhã, đường bệ, nguy nga và tôn nghiêm như thần, như thánh.

- Cảnh quan lớn sung sướng thắng ván bài to tương phản với cảnh đê vỡ nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảm thảm sầu, kể sao cho xiết?

c) Qua hai mặt tương phản, hình ảnh tên quan phủ đi “hộ đê” được khắc họa thật tỉ mỉ, chi tiết: Quan uy nghi, chễm chệ ngồi trên sập kê ở gian đình giữa.

Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra để cho tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi. Một tên lính lệ đứng bên, cầm quạt lông, chốc chốc sẽ phẩy. Tên nữa đứng khoanh tay, chực hầu điếu đóm. Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường phèn để trong khay khảm, khói bay nghi ngút, tráp đồi mồi chữ nhật để mở, trong ngăn bạc đầy những trầu vàng, cau đậu, rễ tía, hai bên nào ống thuốc bạc, nào đồng hồ vàng, nào dao chuôi ngà, nào ống vôi chạm, ngoáy tai, ví thuốc, quản bút, tăm bông trông mà thích mắt... Quan ngồi trên, nha ngồi dưới, lính lệ khoanh tay sắp hàng, nghi vệ tôn nghiêm như thần như thánh.

Sự nhẫn tâm, vô trách nhiệm của tên quan này cũng được phép miêu tả tương phản làm cho nổi bật lên: “Ván bài quan đã chờ rồi. Ngài xơi bát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang trông đĩa nọc, bỗng nghe ngoài xa, tiếng kêu vang trời dậy đất. Mọi người đểu giật nảy mình, duy quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ. Vì ngài sắp ù to”.

Khi đê đã vỡ, tiếng kêu la càng lớn. Lại có tiếng ào ào như thác chảy xiết, tiếng gà chó trâu bò kêu vang tứ phía, mọi người trong đình đều nôn nao sợ hãi. Một người dân phu lấm láp, ướt át chạy hộc tốc vào báo tin đê vỡ thì quan tức giận đỏ mặt tía tai quay ra quát nạt đổ lỗi cho người khác:

- “Đê vỡ thì ông cắt cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày!”. Và quan quay ra hạch bọn lính sao dám để một thường dân xông vào nơi ngài đang đánh bài giải trí không còn ra phép tắc gì. Ngài lớn tiếng:

- “Đuổi cổ nó ra?” rồi lại quay lại chơi tiếp ván bài coi như không có chuyện gì xảy ra. Khi thắng lớn thì ngài vô cùng sung sướng, hể hả. Ngài vỗ tay xuống sập kêu to:

- “Đây rồi! Thế chứ lại!”.

Và vội vàng xòe bài, vừa cười vừa nói:

- “Ù! Thông tôm, chi chi nảy! Điếu mày!”.

Những lời miêu tả quan phụ mẫu như vậy đủ cho ta thấy hắn là một tên quan vô trách nhiệm, vô lương tâm, rất hống hách và đam mê cờ bạc, coi cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân như cỏ rác, chẳng cần đoái hoài tới, chẳng cần phải bận tâm. Dân sống hay chết lụt, chết đói cũng mặc xác, niềm vui thắng bạc của quan mới là quan trọng, mới là đáng kể.

Ngoài những lời văn miêu tả để làm rõ bản chất xấu xa, bất nhân của tên quan, nhiều chỗ tác giả còn đưa ra những lời bình luận đầy mỉa mai, căm phẫn đối với hắn:

- Ấy đó quan phụ mẫu cùng với nha lại đương vui cuộc tổ tôm ở trong đình ấy. Ngài mà còn dở ván bài, hoặc chưa hết hội thì dầu trời long đất lở đê vỡ dân trôi, ngài cũng thây kệ.

- Này này đê vỡ mặc đê, nước sông dù nguy, không bằng nước bài cao thấp.

- Mặc! Dân, chẳng dân thời chớ! Con bài ngon hé nỡ bỏ hoài ru... Một nước bài cao, bằng mấy mươi đê lở, ruộng ngập! Vậy mà không hiểu thời thật là phàm!

d) Tác giả dụng ý dựng lên cảnh tương phản này nhằm vạch trần bản chất bọn quan lại thời Pháp thuộc:

Chúng chẳng bao giờ thực sự lo cho dân mà rất nhẫn tâm, bỏ mặc dân rơi vào cảnh gian nan ruộng ngập, nhà trôi, đói rét bần cùng. Chúng chỉ lo vơ vét cho đầy túi để sống sung sướng và thỏa mãn mọi thú vui chơi của bản thân.

3. a) Sự tăng cấp trong việc miêu tả mưa gió, nước sông ngày càng dâng cao, nguy cơ vỡ đê ngày càng lớn, cảnh hộ đê ngày càng vất vả, căng thẳng và cuối cùng là cảnh ngập lụt thật thương tâm:

+ Nguy cơ ngập lụt ngày một tăng cao:

- Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá; khúc đê làng X. thuộc phủ X. xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất.

- Trên trời vẫn mưa tầm mưa tã trút xuống, dưới sông thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên. Than ôi! Sức người khó địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất.

- ... Có tiếng ào ào như thác chảy xiết; rồi tiếng gà, chó, trâu, bò kêu vang tứ phía.

- Nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết...

+ Cảnh tình của dân phu vật lộn với nước mỗi lúc thêm cực nhọc, thê thảm.

- Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức giữ gìn, kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy lướt thướt như chuột lột. Tình cảnh trông thật là thảm.

- Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai ai cũng mệt lử cả rồi... Lũ con dân đang chân lắm tay bùn, trăm lo nghìn sự, đem thân hèn yếu mà đối với sức mưa to nước lớn, để bảo thủ lấy tính mạng gia tài.

- Vừa lúc đó thì (đê vỡ) tiếng người kêu rầm rĩ, càng nghe càng lớn.

- Kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!

b) Sự tăng cấp trong việc miêu tả mức độ ham mê bài bạc của tên quan phủ:

Ngoài kia, tuy mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít, trăm họ đang vật vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đàn sâu lũ kiến ở trên đê thì trong đình quan ngồi chễm chệ trên sập, xung quanh có thầy đề, thầy đội nhất, thầy thông nhì, chánh tổng sở tại ngồi hầu bài... thật nhàn nhã, đường bệ, nguy nga, tôn nghiêm như thần như thánh.

+ Ngài mà còn dở ván bài, hoặc chưa hết hội thì dầu trời long đất lở, đê vỡ dân trôi, ngài cũng thây kệ.

+ ... đê vỡ mặc đê, nước sông dù nguy, không bằng nước bài cao thấp. Đứng trên đê mà đôh kẻ cắm cừ, người đổ đất, lắm nỗi lầm than, sao bằng ngồi trong đình, đã sẵn kẻ bốc nọc, người chia bài, nhiều đường thú vị.

+ Mặc! Dân, chẳng dân thời chớ! Con bài ngon há nỡ bỏ hoài ru! Quan lớn ngài ăn, ngài đánh, kẻ hầu, kẻ dạ, kẻ vâng. Sướng bao nhiêu, thích bao nhiêu!... Một nước bài cao bằng mấy mươi đê lở, ruộng ngập!

+ ... Nghe ngoài xa, tiếng kêu vang trời dậy đất. Mọi người đều giật nảy mình, duy quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ.

+ Khi có người xông vào báo tin đê vỡ thì ngài đỏ mặt tía tai, quay ra quát rằng:

- Đê vỡ rồi! ... Đê vỡ rồi, thời ông cắt cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không?... Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?

- Đuổi cổ nó ra!

Rồi ngài lại quay lại ván bài và khi thắng to thì ngài vội vàng xòe bài, cười nói hể hả.

c) Hai nghệ thuật tương phản và tăng cấp được kết hợp rất khéo léo trong tác phẩm đã có tác dụng làm bản chất “lòng lang dạ thú" bất nhân, thất đức, hống hách, bạo tàn của tên quan cứ từng bước, từng bước lộ ra dần dần và cuối cùng người đọc thấy rõ nguyên hình của hắn.

Sự kết hợp này làm tăng sức hấp dẫn của truyện.

4. + Giá trị hiện thực của truyện: Truyện này đã phản ánh một thực trạng của xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc: bọn quan lại, tay chân của chính quyền thống trị do Pháp dựng nên, hầu hết là những kẻ vô lương tâm, chỉ lấy việc đục khoét dân làm mục đích của việc làm quan, chẳng bao giờ lo cho dân, luôn bỏ mặc họ trong cảnh thiên tai như hạn hán, lụt lội, cảnh đói rét và nhiều tai nạn xã hội khác.

+ Giá trị nhân đạo của truyện: Giá trị nhân đạo của truyện thể hiện ở chỗ tác giả đã đứng về phía dân đen, thương cảm trước cảnh sông vất vả, khổ cực của họ, xót xa trước nạn lụt làm bao nhiêu nhà trôi, người chết và vô cùng căm phẫn trước sự nhẫn tâm, vô trách nhiệm của bọn quan lại chó má, dám lên tiếng vạch mặt chúng, tố cáo chúng bằng một hình tượng văn học gây xúc động lòng người.

+ Đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm: Tuy lời văn trong truyện còn chịu ảnh hưởng của lối viết thời xưa, luôn có tính biền ngẫu, tức là có những vế câu đối chọi với nhau như:

- kẻ thì thuổng, người thì cuốc.

- kẻ đội đất, kẻ vác tre.

- nào đắp, nào cừ.

- trông đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi.

- nào quan ngồi trên, nào nha ngồi dưới.

- lúc mau, lúc khoan, ung dung êm ái - khi cười, khi nói, vui vẻ dịu dàng.

- kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn...

Nhưng ngôn ngữ trong truyện đã có chọn lọc, từ dùng sắc sảo. Tác giả lại khéo kết hợp ngôn ngữ tự sự (kể chuyện) với ngôn ngữ miêu tả, ngôn ngữ biểu cảm, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ đối thoại làm nổi lên hình tượng nhân vật chính trong bài là tên quan phụ mẫu “lòng lang dạ thú” một cách thật rõ nét, thật độc đáo. Tác giả cũng đã biết đặt nhân vật chính có tính chất điển hình này vào một hoàn cảnh đặc biệt (hoàn cảnh điển hình) tức là cảnh đê sắp vỡ để làm nổi lên bầu không khí căng thẳng, nghiêm trọng và làm nổi lên sự đối lập sâu sắc giữa quan và dân, làm nổi lên bản chát đam mê bài bạc đến mức kì quái của tên quan.

Tác phẩm có kịch tính rất cao và mâu thuẫn của kịch ở đây đã được giải quyết bằng một kết cục vừa hài hước vừa bi thảm thực đáng căm giận: quan thì thắng bạc, cười sung sướng hả hê, dân thì ruộng ngập nhà trôi, người chết.

Ghi nhớ:

Bằng lời văn cụ thể sinh động bằng sự khéo léo trong việc vận dụng kết hợp hai phép tương phản và tăng cấp trong nghệ thuật, Sống chết mặc bay đã lên án gáy gắt tên quan phủ “lòng lang dạ thú” và bày tỏ niềm cảm thương trước cảnh “nghìn sầu muôn thảm” của nhân dân do thiên tai và cũng do thái độ vô trách nhiệm của kẻ cầm quyền gây nên.

LUYỆN TẬP

1. Các hình thức ngôn ngữ đã được vận dụng trong truyện sống chết mặc bay.

Hình thức ngôn ngữ

Không

Ngôn ngữ tự sự

X

 

Ngôn ngữ miêu tả

X

 

Ngôn ngữ biểu cảm

X

 

Ngôn ngữ người dẫn chuyện

X

 

Ngôn ngữ nhân vật

X

 

Ngôn ngữ độc thoại nội tâm

 

X

Ngôn ngữ đốì thoại

X

 

2. Qua ngôn ngữ đối thoại của quan phủ, ta thấy rõ tính cách của hắn:

- quá đam mê cờ bạc

- rất hống hách

- cực kì nhẫn tâm, vô trách nhiệm

Giữa ngôn ngữ và tính cách nhân vật có sự liên quan chặt chẽ, tính cách của nhân vật thế nào thì cũng thể hiện rõ trong cách nói năng. Ví dụ một con người có bản tính nhân hậu thì lời nói cũng khoan dung, nhân từ; kẻ độc ác phũ phàng thì lời nói cũng dữ dằn; kẻ gian xảo lừa lọc thì lời nói cũng luôn giả dối, lắt léo.

Cho nên khi tìm hiểu ngôn ngữ của nhân vật, ta có thể biết được tính cách của nhân vật đó như thế nào.

Nhà văn, khi viết tác phẩm, phải luôn luôn lựa chọn để sao cho ngôn ngữ nhân vật nào cũng phải phù hợp với tính cách của nhân vật đó.

Viết bình luận